Trường Sĩ Quan Chính Trị Quân sự - Đại học Chính Trị

Trường Sĩ Quan Chính Trị Quân sự - Đại học Chính Trị Trường Đại học Chính trị trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ THÀNH TÍCH, TRUYỀN THỐNG TIÊU BIỂU
a. b.

- Tên trường: Trường Đại học Chính trị (Political University).
- Tên khác: Trường Sĩ quan Chính trị (Political Officers College).
- Địa điểm đóng quân hiện tại: phường Vệ An, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (hiện Nhà trường đang triển khai xây dựng địa điểm đóng quân mới tại xã Thạch Hoà, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội).
- Tạp chí của Nhà trường: Tạp chí Khoa học Chính trị quân sự (Địa chỉ:

Phòng KHCN&MT - Trường Sĩ quan Chính trị; ĐT: 069.841.154, 0241.6255.722; Email: [email protected]).
- Website của Nhà trường: Website Trường Đại học Chính trị (Địa chỉ: http://dhct.edu.vn; Email: [email protected]; ĐT: 069.841.154).
1. Khái quát lịch sử hình thành
- Ngày 14 tháng 01 năm 1976, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Quyết định số 18/QĐ-QP thành lập Trường Sĩ quan Chính trị (tiền thân của Trường Đại học Chính trị hiện nay) có nhiệm vụ bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ chính trị viên đại đội cho toàn quân. Sau 5 tháng làm công tác chuẩn bị, tháng 6 năm 1976, Trường Sĩ quan Chính trị chính thức đi vào hoạt động độc lập - với tư cách là một đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng.
- Ngày 03 tháng 10 năm 1978, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IV) đã ban hành Quyết định số 28/QĐ-TW xác định Trường Sĩ quan Chính trị là trường Đảng tập trung trong quân đội nằm trong hệ thống đại học Mác - Lênin của quốc gia; có nhiệm vụ đào tạo cán bộ công tác đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) cấp đại đội, bồi dưỡng giáo viên chính trị cho các nhà trường quân đội, giúp nước bạn Lào và Căm-pu-chia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị cơ sở.
- Ngày 16 tháng 12 năm 1981, Bộ Quốc phòng ban hành Quyết định số 418/QĐ-QP đổi tên Trường Sĩ quan Chính trị thành Trường Sĩ quan Chính trị - quân sự.
- Ngày 30 tháng 4 năm 1992, Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định cấp bằng tốt nghiệp Cử nhân Cao đẳng ngành chính trị học cho học viên tốt nghiệp của Trường Sĩ quan Chính trị - quân sự. Đây là sự kiện đánh dấu sự hòa nhập của Nhà trường vào hệ thống các trường đại học và cao đẳng trong cả nước.
- Ngày 08 tháng 8 năm 1995, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Quyết định số 687/QĐ-QP, sáp nhập Trường Sĩ quan Chính trị - quân sự vào Học viện Chính trị quân sự (trở thành cơ sở II của Học viện Chính trị quân sự).
- Ngày 22 tháng 5 năm 2008, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký Quyết định số 69/2008/QĐ-BQP, “về việc thành lập Trường Sĩ quan Chính trị trực thuộc Bộ Quốc phòng”. Theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Trường Sĩ quan Chính trị có chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị cấp phân đội và nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn quân sự. Nhà trường có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị cấp phân đội có trình độ đại học; đào tạo chuyển loại cán bộ chính trị cấp phân đội; đào tạo giáo viên khoa học xã hội nhân văn cấp phân đội trình độ đại học; đào tạo sĩ quan và cán bộ chính trị cho quân đội nước ngoài khi được giao nhiệm vụ; đào tạo sĩ quan dự bị và sẵn sàng nhận, hoàn thành các nhiệm vụ khác khi được giao [1].
- Sau 5 tháng khẩn trương xúc tiến mọi công tác chuẩn bị, từ ngày 01 tháng 11 năm 2008, Trường Sĩ quan Chính trị chính thức hoạt động độc lập và trở thành một đơn vị đầu mối trực thuộc Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng.
- Ngày 23 tháng 12 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2344/QĐ-TTg, thành lập Trường Đại học Chính trị trên cơ sở nâng cấp Trường Sĩ quan Chính trị.
- Ngày 27 tháng 4 năm 2011, Bộ Thông tin và Truyền thông đã cấp Giấy phép hoạt động cho Tạp chí Khoa học Chính trị quân sự của Trường Đại học Chính trị.
- Ngày 29 tháng 9 năm 2011, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã ban hành Quyết định số 1422/QĐ-CT cho phép Trường Đại học Chính trị thiết lập trang tin điện tử trên internet - Website Trường Đại học Chính trị. Thành tích, truyền thống tiêu biểu
Tính đến tháng 7 năm 2012, Trường Đại học Chính trị đã mở gần 200 khóa học và lớp bồi dưỡng với gần 2 vạn học viên đào tạo chính trị viên tốt nghiệp ra trường; 1.500 học viên đào tạo giáo viên, 67 phóng viên báo chí quân đội, 623 cán bộ và giáo viên chính trị cho Quân đội nhân dân cách mạng Lào và Quân đội Hoàng gia Căm-pu-chia, 266 cử nhân luật, 529 sĩ quan dự bị. Từ năm 2008 đến nay (2013) Nhà trường đã nghiên cứu và nghiệm thu thành công 01 đề tài cấp Bộ Quốc phòng (đang triển khai nghiên cứu 01 đề tài cấp Bộ), 18 đề tài cấp Tổng cục Chính trị và Bộ Tổng Tham mưu; 30 đề tài cấp Trường; hàng trăm đề tài, chuyên đề khoa học cấp phòng, khoa, ban, hệ, tiểu đoàn và đề tài cá nhân của cán bộ, giảng viên và học viên. Tổ chức thành công 08 hội thảo cấp Nhà trường; nghiên cứu biên soạn, in ấn, phát hành 75 giáo trình, sách tham khảo, tập bài giảng, tài liệu dạy học . Trường Đại học Chính trị đã đạt Giải Nhất Hội thi Olympic các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh toàn quân năm 2009 và đạt Giải Nhì Hội thi này năm 2012. Đội tuyển văn nghệ của Nhà trường đã xuất sắc giành Giải Nhất Hội diễn Văn nghệ quần chúng học sinh, sinh viên khu vực phía Bắc năm 2010. Tham gia Giải thưởng tuổi trẻ sáng tạo trong quân đội, học viên của Nhà trường đã có 01 đề tài đạt giải Nhất; 03 đề tài đạt giải Nhì; 07 đề tài đạt giải Ba (tính từ 2009 - 2012). Tính đến tháng 3 năm 2013, Trường Đại học Chính trị đã được Đảng, Nhà nước, Quân đội tặng thưởng:
- 01 Huân chương Quân công Hạng Nhất.
- 01 Huân chương Quân công Hạng Nhì.
- 01 Huân chương Chiến công Hạng nhì.
- 01 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba.
- 09 tập thể được tặng Huân chương Chiến công các loại.
- 01 đồng chí được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân - Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Linh; 23 đồng chí cán bộ, học viên của Nhà trường đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc tháng 2 năm 1979.
- 01 đồng chí được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân - Thiếu tướng Giang Văn Thành, hiện là Phó Hiệu trưởng Nhà trường.
- 73 đồng chí được tặng Huân chương Chiến công các loại.
- Năm 2008, 2009, 2010, 2011 Trường Đại học Chính trị được tặng Cờ thi đua của Bộ Quốc phòng. Trải qua 37 năm xây dựng, phát triển, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ Nhà trường đã viết nên truyền thống: “Trung thành, sáng tạo, đoàn kết, vượt khó, dạy tốt, học tốt”.
2. GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
a. Những nét chính về giáo dục - đào tạo
- Đối tượng đào tạo
+ Đào tạo chính trị viên.
+ Đào tạo giáo viên khoa học xã hội và nhân văn cấp phân đội.
+ Đào tạo giáo viên giáo dục quốc phòng, an ninh.
+ Đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Triết học Mác - Lênin; Chủ nghĩa xã hội khoa học; Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước (bắt đầu từ 2014).
- Hình thức đào tạo:
+ Đào tạo chính quy tập trung dài hạn.
+ Đào tạo chính quy tập trung ngắn hạn.
+ Đào tạo liên kết tập trung dài hạn với các nhà trường quân đội.
- Trình độ đào tạo: đại học, cao đẳng và sau đại học (từ năm 2014).
- Một số chuyên ngành đang triển khai đào tạo
+ Đào tạo chính trị viên đại đội từ đối tượng học sinh phổ thông và quân nhân.
+ Đào tạo chính trị viên đại đội từ đối tượng cử tuyển dân tộc thiểu số.
+ Đào tạo chính trị viên đại đội từ sĩ quan tốt nghiệp các trường sĩ quan.
+ Đào tạo giáo viên KHXH&NV cấp phân đội các chuyên ngành: Triết học Mác - Lênin; Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam; Chủ nghĩa xã hội khoa học; Kinh tế chính trị Mác - Lênin; Tâm lý học quân sự; Giáo dục học quân sự.
+ Đào tạo ngắn cán bộ chính trị cấp phân đội (chuyển loại chính trị 6 tháng).
+ Đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội cho Bộ Công an.
+ Hoàn thiện đại học cán bộ chính trị cấp phân đội.
+ Đào tạo văn bằng 2 đại học giáo viên giáo dục quốc phòng, an ninh.
+ Đào tạo cán bộ chính trị cho QĐND Lào và Quân đội Hoàng gia Căm-pu-chia.
+ Bồi dưỡng lý luận chính trị quân sự cho cán bộ, học viên tốt nghiệp đại học ở nước ngoài về nước (Lớp 871).
+ Bồi dưỡng nghiệp vụ CTĐ, CTCT cho cán bộ các tập đoàn, tổng công ty trong quân đội theo chỉ tiêu và hợp đồng.
- Mô hình đào tạo
+ Học viên tốt nghiệp các khoá đào tạo chính trị viên được cấp bằng Cử nhân chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước; được kết nạp đảng viên; được phong quân hàm sĩ quan; có đầy đủ phẩm chất, kiến thức, kỹ năng để đảm đương cương vị Chính trị viên đại đội (hoặc Chính trị viên phó đại đội), Bí thư chi bộ, Bí thư chi đoàn và có điều kiện phát triển lên những cấp bậc, chức vụ cao hơn.
+ Học viên tốt nghiệp các khóa đào tạo giáo viên khoa học xã hội nhân văn cấp phân đội được cấp bằng Cử nhân đúng chuyên ngành đào tạo (hiện có 6 chuyên ngành đã giới thiệu ở trên); được kết nạp đảng viên; được phong quân hàm sĩ quan; có phẩm chất, kiến thức, kỹ năng để đảm đương cương vị giảng viên giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội.
+ Học viên tốt nghiệp các khoá đào tạo giáo viên giáo dục quốc an ninh được cấp bằng Cử nhân chuyên ngành giáo dục quốc phòng, an ninh; có phẩm chất, kiến thức, kỹ năng đảm đương cương vị giáo viên giảng dạy môn học giáo dục quốc phòng, an ninh; được ưu tiên tuyển dụng, biên chế là giáo viên giảng dạy môn giáo dục quốc phòng, an ninh ở các trường trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, hoặc có thể ở các trường cao đẳng, đại học. Khái quát hoạt động nghiên cứu khoa học
- Nhà trường là trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn của quân đội và quốc gia. Tuyệt đại đa số cán bộ, giảng viên có năng lực thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Các đối tượng học viên trong quá trình học tập tại trường được tạo điều kiện tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học của Nhà trường và hoạt động Giải thưởng tuổi trẻ sáng tạo trong quân đội.
- Hàng năm Nhà trường được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ nghiên cứu đề tài khoa học các cấp (cấp Bộ Quốc phòng; Bộ Tổng Tham mưu; Tổng cục Chính trị); biên soạn hệ thống giáo trình tài liệu dạy học; tổ chức các hoạt động hội thảo khoa học; sinh hoạt học thuật; thông tin khoa học,… phục vụ giáo dục - đào tạo và xây dựng Nhà trường, xây dựng quân đội.
3. CƠ CẤU NHÂN LỰC VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN
a. Cơ cấu tổ chức
+ Cơ cấu tổ chức biên chế của Nhà trường cơ bản như các học viện, nhà trường quân đội (Ban Giám hiệu, các cơ quan chức năng, các khoa giáo viên, các đơn vị quản lý học viên) bảo đảm vừa thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học và các nhiệm vụ khác của một đơn vị quân đội.
+ Các đối tượng học viên được tổ chức quản lý tại các hệ (Hệ 1, 2, 3, 4), tiểu đoàn (Tiểu đoàn 1, 2, 3, 4, 5, 6, 9). Đội ngũ cán bộ quản lý học viên được đào tạo cơ bản, có kinh nghiệm, có khả năng tổ chức tốt các hoạt động quản lý, rèn luyện học viên theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo.
+ Các khoa giáo viên được tổ chức thành 14 khoa; đội ngũ giảng viên 100% được đào tạo cơ bản, chính quy; nhiều giảng viên đã trải qua thực tế chiến đấu, quản lý, chỉ huy đơn vị huấn luyện chiến đấu; mẫu mực, nhiệt tình, trách nhiệm; 100% giảng viên có trình độ đại học; tỷ lệ giảng viên có trình độ trên đại học 65%. Triển vọng đào tạo, nghiên cứu khoa học
- Nhà trường đang xúc tiến công tác chuẩn bị cho việc mở mã ngành đào tạo sau đại học chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, Triết học Mác - Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học (dự kiến khóa I bắt đầu từ năm 2014).
- Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường tập trung chỉ đạo chuẩn hoá đội ngũ nhà giáo và đổi mới phương pháp dạy học nhằm không ngừng nâng cao uy tín, chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đào tạo trong tình hình mới.
- Quán triệt nghiêm túc Nghị quyết 791-NQ/QƯTW của Quân uỷ Trung ương “về lãnh đạo công tác khoa học, công nghệ và môi trường trong Quân đội đến năm 2020 và những năm tiếp theo”, Trường Đại học Chính trị đang xúc tiến nhiều giải pháp nâng cao tiềm lực, uy tín khoa học của Nhà trường; đa dạng hoá các sản phẩm khoa học; phấn đấu trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn có uy tín trong quân đội và toàn quốc.
- Phấn đấu để Tạp chí Khoa học Chính trị quân sự và Website Trường Đại học Chính trị trở thành những điển hình của các trường đại học trong quân đội.

TÂM SỰ ĐỜI LÍNH                                                Có một nghề bạn gọi là "lương cao".Chúng tôi gọi đó là đờ...
24/12/2023

TÂM SỰ ĐỜI LÍNH Có một nghề bạn gọi là "lương cao".
Chúng tôi gọi đó là đời "Binh nghiệp"
Bạn bảo rằng lính thời bình quá sướng
Có giặc đâu để đánh đấm hả mày?

Tôi mỉm cười nắm lấy bàn tay
Của thằng bạn mềm như tay con gái.
Cậu nói đúng, lính lương cao lắm đấy!
Vậy tại sao cậu không thử một phen?

Cậu biết không, khi thành phố lên đèn
Cậu tung tăng dắt người yêu dạo phố
Ngắm đèn màu, dạo phố, xi nê
Sao lúc đó cậu không tự ngỏ
Bạn cậu ở đâu trong thành phố này?

Biên giới mưa rừng giá buốt đôi tay
Lũ chúng tôi phải tuần tra canh gác
Nơi đảo xa sóng vỗ ngập đầu
Bọn chúng tôi vẫn đứng chẳng chờn
Canh vùng trời, giữ biển đảo xa khơi.

Ừ thì lính lương cao, bạn nói chẳng sai lời!
Khi giông bão, thiên tai, hỏa hoạn
Ai là người xông pha cứu nạn
Những anh hùng đường phố hay lũ bạn vỉa hè?
Bạn thân ơi khi dịch bệnh bủa vây
Bạn ở đâu trong vùng tâm dịch?
Lính lương cao nhưng không phải đích cuối
Bạn so đo rằng lính lắm tiền
Bạn có biết giữa biển khơi đồng đội tôi không ngủ.
Ôm súng canh trời mơ ước gửi theo mây?
Đã bao giờ bạn tự hỏi câu này
Sao lễ tết tớ không về tụ họp
Mẹ yếu, cha già, con thơ đi học
Khi bạn đang nghễu nghện xe sang
Ngồi bàn tiệc, hút xì gà, rượu ngoại
Là khi chúng tôi băng đèo lội suối
Cơm trộn mưa rừng, măng lót dạ chia nhau.
Có một nghề chắc chắn lương cao
Nhưng có lẽ...chẳng ai xung phong nhận
Những khó khăn luôn là vô tận
Cái chết giữa thời bình ngàn vạn xót xa đau.
Có một nghề bạn sẽ chẳng hiểu đâu?
Chúng tôi sống và gọi nhau Đồng Chí
San sẻ buồn vui, tình như tri kỷ
Sẵn sàng nhận về những gian khó, hiểm nguy.
Chẳng phải lương cao hay bất cứ lý do gì
Mà người nọ nhường người kia sự sống
Tất cả vì phía sau làn áo mỏng
Một trái tim hồng chung nhịp đập mà thôi.
St

Cải thiện tiền lương bộ độiPhát biểu tại phiên họp Quốc hội chiều 31-5, đại biểu Trịnh Xuân An (đoàn Đồng Nai) đề nghị c...
05/06/2023

Cải thiện tiền lương bộ đội

Phát biểu tại phiên họp Quốc hội chiều 31-5, đại biểu Trịnh Xuân An (đoàn Đồng Nai) đề nghị cần tiếp tục quan tâm lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đầu tư thích đáng để xây lực lượng vũ trang, xây dựng Quân đội ngày càng vững mạnh, tạo điều kiện để Quân đội thực hiện tốt 3 chức năng (đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất), vừa tham gia phát triển kinh tế-xã hội, vừa bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng. Đặc biệt, cần chú trọng hỗ trợ về thu nhập, tiền lương cho cán bộ, chiến sĩ yên tâm công tác. Đại biểu Trịnh Xuân An dẫn chứng, mức lương của đồng chí quân nhân chuyên nghiệp (QNCN) lái xe tăng chỉ bằng một nửa thu nhập của tài xế xe công nghệ Grab-như vậy thì rất thiệt thòi...
Trăn trở của đại biểu Quốc hội cũng là tâm tư, nguyện vọng, mong mỏi của cán bộ, chiến sĩ toàn quân cùng tất cả người thân, gia đình và hàng triệu người hiểu thực tế cuộc sống, công tác, làm nhiệm vụ đặc thù, đặc biệt của cán bộ, chiến sĩ Quân đội.
Mặc dù Đảng, Nhà nước đã rất quan tâm đến Quân đội, nhân dân hết lòng yêu thương, sẻ chia với Quân đội, nhưng những vất vả, gian khổ, hy sinh của bộ đội và gia đình họ, cho dù trong thời bình cũng không thể kể hết. Không chỉ trực 24/24 giờ tại đơn vị mà bộ đội phải luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống, sẵn sàng làm nhiệm vụ ứng cứu, giúp đỡ nhân dân phòng, chống thiên tai, cứu hộ-cứu nạn, khắc phục các sự cố, thảm họa... trong bất kể thời gian, địa điểm, sự hiểm nguy nào. Phần lớn quân nhân cùng gia đình chịu rất nhiều thiệt thòi về tình cảm vì bộ đội thường biền biệt xa nhà, ít được gặp bố mẹ, vợ con, ngay cả khi ốm đau, hoạn nạn... Bộ đội cũng không thể chọn nơi công tác và chọn việc nhẹ nhàng; sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì, luôn xông pha vào những nơi gian khổ, nguy hiểm nhất-nhiều đồng chí đã không thể trở về. Lao động của Quân đội là lao động xương máu!
Thế nhưng, thu nhập và thực tế mức sống của đội ngũ sĩ quan, QNCN, nhất là những quân nhân tuổi dưới 40, không bằng người làm nghề tự do như thợ xây, thợ mộc, thậm chí còn không bằng người đánh giày, rửa xe, bán hàng nước vỉa hè...
Thoạt nghe tưởng bộ đội "sướng vì lương cao". Nhưng hiện nay tổng lương của sĩ quan thiếu tá đã 15 năm công tác chỉ khoảng 12 triệu đồng/tháng, trừ tiền ăn (vì phải trực, làm việc 24/24 giờ tại đơn vị) và các khoản phải nộp theo quy định của pháp luật thì chỉ còn gần 10 triệu đồng. Mức thu nhập này không bằng làm thợ xây với tiền công từ 400.000 đến 500.000 đồng/8 giờ làm việc, thấp hơn cả sinh viên mới ra trường làm trong các doanh nghiệp ở gần nhà.
Thu nhập của sĩ quan cấp úy, của các đồng chí QNCN còn thấp hơn! Rất khó tránh khỏi tâm tư khi các thượng tá, đại tá đã 30 năm cống hiến, công tác xa nhà mà lương chưa bằng tân cử nhân làm việc trong các doanh nghiệp trả tiền công tương xứng với cống hiến của người lao động.
Điều không phải ai cũng biết, đó là: Ngoài tiền lương, đại đa số quân nhân không có khoản thu nhập khác, cũng không thể làm thêm, làm giúp việc nhà; đồng thời, việc công tác xa đã phát sinh rất nhiều chi phí: Đi lại, thuê người trông con nhỏ, đưa đón con đi học, gia đình làm việc gì cần đến người đàn ông cũng phải thuê; nhiều đồng chí lấy vợ xa quê còn phải thuê nhà, tiết kiệm đến lúc nghỉ hưu cũng chưa mua được mảnh đất an cư (dù pháp luật đã quy định từ lâu, nhưng sĩ quan, QNCN vẫn chưa được hưởng phụ cấp nhà ở; số được hỗ trợ về nhà ở xã hội và được mượn, thuê nhà công vụ cũng rất ít)... Phải chăng vì thế mà sĩ quan, QNCN thường vất vả và nghèo hơn bạn cùng trang lứa? Chưa kể việc bộ đội đưa vợ con đi du lịch, đi chơi thì... hiếm vô cùng!
Chính thực tế trên đã khiến nhiều sĩ quan, QNCN khó lấy vợ, số thí sinh đăng ký học các trường Quân đội ngày càng giảm, ít người giỏi có nguyện vọng vào bộ đội... Đây là điều rất đáng suy ngẫm, đáng lo, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức mạnh của Quân đội!
Vẫn biết Bộ đội Cụ Hồ luôn có phẩm chất cao đẹp là sẵn sàng cống hiến, hy sinh, vì nhân dân quên mình...
Vẫn biết Đảng, Nhà nước, nhân dân luôn quan tâm chăm lo cho Quân đội nói chung và đời sống của cán bộ, chiến sĩ nói riêng.
Tuy nhiên, thực tiễn đời sống, thu nhập của sĩ quan, QNCN đang có nhiều khó khăn, bất cập, cần sớm giải quyết để bảo đảm công bằng xã hội, đồng thời giúp các quân nhân yên tâm công tác; quan trọng hơn là tạo động lực thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào Quân đội-nhân tố có vai trò quyết định xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Quy luật sinh tồn dân tộc ta từ buổi bình minh lịch sử là dựng nước đi đôi với giữ nước. Muốn giữ được nước thì phải lo giữ từ khi nước chưa nguy. Nhìn ra thế giới thì thấy, việc chăm lo quân đội, củng cố quốc phòng vừa là nhiệm vụ chiến lược, vừa là đòi hỏi cấp bách!
QĐND
NBĐ

THÔNG TIN THÍ SINH CẦN BIẾT KHI ĐĂNG KÝ SƠ TUYỂN VÀO HỆ ĐẠI HỌC QUÂN SỰ TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ NĂM 2023
27/04/2023

THÔNG TIN THÍ SINH CẦN BIẾT KHI ĐĂNG KÝ SƠ TUYỂN VÀO HỆ ĐẠI HỌC QUÂN SỰ TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ NĂM 2023

Ý nghĩa tên gọi Quân đội nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử 1. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là tên c...
20/12/2021

Ý nghĩa tên gọi Quân đội nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

1. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là tên của đội quân chủ lực của Mặt trận Việt Minh từ tháng 12-1944 đến tháng 5-1945. Đây là tổ chức quân sự được công nhận là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, 22-12-1944, sau này đã được chọn làm ngày thành lập của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bối cảnh ra đời: Trước đòi hỏi của tình hình đấu tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy đến lúc phải thành lập một lực lượng vũ trang chủ lực, nòng cốt lấy từ các cán bộ, đội viên du kích năng nổ. Bác và Ban thường vụ Trung ương Đảng chỉ định đồng chí Võ Nguyên Giáp đảm nhiệm công việc thành lập lực lượng vũ trang tập trung. Trong “Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân” của Bác Hồ, đã nói rõ ý nghĩa lịch sử, nhiệm vụ của đội quân chủ lực đầu tiên: “1. Tên: Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực.

Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân,cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt các đội vũ trang của địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.

2. Đối với các đội vũ trang địa phương: Đưa cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các các bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.

3. Về chiến thuật: Vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay đông, mai tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.

Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.

Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Bắc chí Nam, khắp đất nước Việt Nam”.

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) thành lập ngày 22-12-1944. Ảnh tư liệu.

2. Việt Nam Giải phóng quân là tên gọi của QĐND Việt Nam từ tháng 5 đến tháng 11-1945. Việt Nam Giải phóng quân thành lập ngày 15-5-1945, tại Định Biên Thượng (Chợ Chu, Thái Nguyên) trên cơ sở thống nhất từ các đơn vị Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Cứu quốc quân cùng các tổ chức vũ trang cách mạng tập trung của cả nước, theo nghị quyết của Hội nghị quân sự Bắc Kỳ (tháng 4-1945) họp tại Hiệp Hòa (Bắc Giang).

Bối cảnh lịch sử: Trong lúc cả nước ta sục sôi không khí cách mạng thì Chiến tranh thế giới lần thứ 2 bước vào những ngày kết thúc.

Ngày 7-5-1945, phát xít Đức - Ý đầu hàng Đồng minh. Ngày 8-8-1945, Hồng quân Liên Xô đánh tan đạo quân Quan Đông, chủ lực của phát xít Nhật; sự sụp đổ hoàn toàn của phát xít Nhật chỉ còn tính từng giờ.

Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam được họp ở Tân Trào từ ngày 13 đến 15-8-1945 trong không khí hết sức khẩn trương. Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị quyết định phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Theo lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng, của Tổng bộ Việt Minh và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước đứng dậy. 14 giờ ngày 16-8-1945, đơn vị chủ lực của Việt Nam giải phóng quân xuất phát từ Tân Trào tiến đánh thị xã Thái Nguyên. Mục tiêu tiến công của Giải phóng quân lúc này không còn là những đồn bốt, châu lỵ mà là những căn cứ chính của địch, các thị trấn, thị xã. Lời căn dặn của Bác Hồ: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đôt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Ngày 21-8-1945, quân Nhật đầu hàng. Tuyên Quang được giải phóng. Thắng lợi của cuộc đánh chiếm các tỉnh lỵ Thái Nguyên, Tuyên Quang là thắng lợi của Quân giải phóng đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng chính trị, dùng cả quân sự, chính trị và binh vận để tiến công địch.

Chỉ trong vòng 12 ngày (từ 14 đến 25-8-1945), Tổng khởi nghĩa tháng Tám đã thắng lợi trong cả nước. Chính quyền cách mạng của nhân dân được thành lập từ Trung ương đến khắp các thôn xã. Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời.

3. Vệ quốc đoàn: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời đã lâm vào tình thế hiểm nghèo, thù trong, giặc ngoài. Ở phía Bắc, quân đội Tưởng Giới Thạch tiến vào giải giáp quân Nhật. Ở phía Nam, thực dân Anh mở đường cho thực dân Pháp tiến vào với âm mưu biến Việt Nam trở về thời kỳ thuộc địa. Lúc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta tiến hành sách lược mềm dẻo “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, để giữ vững nền độc lập non trẻ. Trước sức ép của quân Tưởng Giới Thạch, ta linh động đưa Đảng ta vào hoạt động bí mật, Đảng tuyên bố “tự giải tán”. Để đáp ứng yêu sách của quân Tưởng đòi giải tán quân đội chính quy, tháng 11-1945, Việt Nam giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn (còn gọi là Vệ quốc quân). Lúc này quân số quân đội ta khoảng 50.000 người, tổ chức thành khoảng 40 chi đội ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ. Một số chi đội đã “Nam tiến” để giúp quân dân miền Nam chống lại thực dân Pháp đang tấn công xâm lược trở lại ở Nam Bộ.

4. Quân đội Quốc gia Việt Nam: Ngày 22-5-1946, theo Sắc lệnh 71/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Vệ quốc đoàn đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam, được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng tham mưu. Quân đội ta lúc này tổ chức biên chế thống nhất theo trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội… Cùng với việc xây dựng quân đội quốc gia, Chính phủ ta đặc biệt coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, lực lượng bán vũ trang, bao gồm: dân quân ở nông thôn và tự vệ ở đô thị. Trong thời kỳ 1945-1950, có những người lính trong quân đội thực dân, đế quốc sang xâm lược Việt Nam, bị cảm hóa bởi cuộc kháng chiến vệ quốc chính nghĩa của quân dân ta đã tình nguyện gia nhập Quân đội ta, tham gia chiến đấu và công tác ở nhiều lĩnh vực như chỉ huy, tham mưu, kỹ thuật, huấn luyện, quân y, quân giới, tuyên truyền... Nhiều người được giao trọng trách và phong quân hàm sĩ quan. Họ đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng Quân đội Quốc gia Việt Nam trong buổi ban đầu xây dựng lực lượng.

5. Quân đội nhân dân Việt Nam: Từ năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam. Tên gọi "Quân đội nhân dân" là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ".

Ảnh minh họa: qdnd.vn.

Cũng thời gian này, các đại đoàn (đơn vị tương đương sư đoàn) chủ lực quan trọng như các đại đoàn 308, 304, 312, 320, 316, 325, 351 lần lượt được thành lập, đến nay vẫn là những đơn vị chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ một đội quân chỉ vài trăm người khi tham gia Tổng khởi nghĩa, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát triển thành quân đội với các sư đoàn chủ lực mạnh, lập nên những chiến công lẫy lừng mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử ngày 7-5-1954, đập tan mưu toan thiết lập lại chế độ thuộc địa của thực dân Pháp.

Tên gọi Quân đội nhân dân Việt Nam trở nên quen thuộc với nhân dân từ đó đến nay. Sau khi Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền. Nhân dân Việt Nam đứng trước hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước. Nhiệm vụ của quân đội thời kỳ này là vừa xây dựng chính quy, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa vừa tham gia đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 15-2-1961, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, lực lượng quân sự của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất lực lượng vũ trang tại chỗ và lực lượng tăng viện từ miền Bắc. Trước sự can thiệp trực tiếp của quân đội Mỹ, Quân đội nhân dân Việt Nam đã sát cánh cùng với nhân dân và các lực lượng vũ trang khác, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài và gian khổ, lập nên những kỳ tích mà tiêu biểu là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ ở miền Bắc mà đỉnh cao là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972; kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào ngày 30-4-1975, thống nhất đất nước, mở ra thời kỳ phát triển mới cho đất nước.

Như vậy, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là một cái tên mới xuất hiện, nhưng là một bộ phận không tách rời của Quân đội nhân dân Việt Nam. Thực tế lịch sử cho thấy, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh, vai trò lịch sử vẻ vang của mình. Sau năm 1975, đất nước thống nhất, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam hợp nhất với Quân đội nhân dân Việt Nam, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam có lực lượng thường trực gồm bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương với tổng quân số khoảng 450.000 người và lực lượng quân dự bị khoảng 5 triệu người. Bộ đội chủ lực là thành phần nòng cốt của Quân đội nhân dân Việt Nam gồm lực lượng cơ động của các quân đoàn, quân chủng, binh chủng, bộ đội chủ lực của quân khu và bộ đội chuyên môn kỹ thuật. Bên cạnh các đơn vị huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu còn có hệ thống hoàn chỉnh các đơn vị bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; các học viện, viện nghiên cứu, các trường đào tạo sĩ quan và trường nghiệp vụ các cấp.

Thạc sĩ MAI DANH THƯ
(sưu tầm)
NBĐ

Thắp nến tri ân đồng bào và cán bộ, chiến sĩ hy sinh, tử vong vì Covid-19 🌻🌹🌼 🙏🙏🙏Có lẽ dịch bệnh vẫn còn xa lắm ngoài ki...
18/11/2021

Thắp nến tri ân đồng bào và cán bộ, chiến sĩ hy sinh, tử vong vì Covid-19 🌻🌹🌼 🙏🙏🙏

Có lẽ dịch bệnh vẫn còn xa lắm ngoài kia cho tới khi bạn tôi đổi avatar đen vì “Bố tao mất rồi!”. Nhanh lắm! Chỉ vài ngày sau khi dương tính, khi ấy Thành phố Hồ Chí Minh còn chưa phong tỏa, người ta vẫn còn nhởn nhơ.

Rồi khu nhà tôi phong tỏa. Những ngày đầu tinh thần rất hoảng loạn. Những con số vây quanh, những địa điểm nghi vấn, người người tình nghi mắc, … Lúc nào cũng bất an liệu có tới mình chưa? Bạn bè tôi, gia đình chúng nó, cả xóm cả làng, … chẳng ai không sống trong lo lắng run sợ. Chỉ là ít hay nhiều.

Rồi anh Bác sĩ của tôi vào Thành phố Hồ Chí Minh dập dịch. Người bệnh, cấp cứu, máy thở, … vây quanh. Nó chìm trong bộ đồ bảo hộ và ăn, ngủ trong tranh thủ vội vàng. Nhiều hôm quá bữa rất lâu mới ăn, cái tiết trời Sài Gòn giữa hè hầm hập, nó nhởn nha nhắn: “Cơm thiu rồi! Nhưng cơm thiu nhẹ nhẹ! Vẫn ăn được không sao!".

Tôi biết có bạn đưa bố đi Thành phố Hồ Chí Minh khám bệnh. Tôi biết có ông bà vào Thành phố Hồ Chí Minh thăm cháu. Tôi biết có hai vợ chồng thuê căn trọ nhỏ ở cùng nhau, có người đồng chí đứng nghiêm ngẩng đầu tiến vào tâm dịch… Họ chẳng liên quan tới nhau, nhưng giống nhau rằng chẳng thể đợi tới khi Thành phố Hồ Chí Minh khỏi ốm, họ đã gặp nhau, ôm lấy nhau dưới hình hài là một hũ tro lạnh ngắt. Nến tắt rồi!

Tôi biết vào một ngày tháng 8, riêng Thành phố Hồ Chí Minh đã có hơn 150 em nhỏ mồ côi vì dịch bệnh. Tới giờ thì không biết, cả nước thì không biết. Không muốn biết!

Tôi biết nhiều. Nhưng không biết hết!

Tối mai Thành phố Hồ Chí Minh rủ nhau tắt đèn, thắp nến để nhớ về những người đồng bào, đồng chí, đồng đội, … đã hy sinh vì dịch bệnh.

Bao nhiêu cây nến cho đủ, bao nhiêu nén nhang đã buông tàn?

Có lẽ cũng chưa bao giờ, tôi thấy tình người lại nở hoa tới vậy…

Chú hàng xóm mở cổng vườn, thêm cái biển “Rau sạch nhà trồng ai ăn vô lựa”.

Các bà các cô thu hoạch cam, ríu rít vắt nước, dựng cái bàn tiếp tế lương thực nước uống thuốc men cho đoàn người về quê. Đoàn người về quê thì được cán bộ Công an dẫn đoàn.

Hàng đoàn y Bác sĩ, Bộ đội, Công an, Tình nguyện viên, Nhân dân, … dơ cao tay áo đã sắn lao vào tâm dịch cứu lấy đồng bào.

Gia đình ôm ấp lấy nhau. “Dịch bệnh mà! Về bố mẹ nuôi”...

Khó khăn chưa qua đi! Dịch bệnh đương còn đó! Mất mát chưa dừng lại! Nhưng rồi đó người ta thương nhau hơn, trân trọng những điều nho nhỏ bé, rồi nỗ lực vươn lên nhiều hơn!

Không biết là bao giờ, nhưng chắc chắn dịch bệnh sẽ kết thúc.

Mạnh mẽ kiên cường chúng ta là một phần lịch sử, làm lên lịch sử!

ISRAEL, PALESTINE VÀ JERUSALEM Câu chuyện hôm nay được viết lại từ sự kiện hôm nay, khi Israel – Palestine đối diện khả ...
14/05/2021

ISRAEL, PALESTINE VÀ JERUSALEM

Câu chuyện hôm nay được viết lại từ sự kiện hôm nay, khi Israel – Palestine đối diện khả năng bùng nổ chiến tranh toàn diện. Bắt đầu bằng việc chính quyền Israel đuổi 6 gia đình Palestine sinh sống tại khu vực Sheikh Jarrah thuộc Đông Jerusalem, thổi bùng lên ngọn lửa giận dữ của người Palestine. Cảnh sát được gọi đến và đụng độ đẫm máu xảy ra. Hamas, tổ chức vũ trang của người Palestine ở Dải Gaza tuyên bố đứng về phía người dân Palestine bị lấy đất. Cùng thời điểm đó, hàng chục ngàn người Palestine biểu tình bên ngoài đền thờ Al-Aqsa, địa điểm linh thiêng thứ ba của người Hồi giáo. Đền thờ nằm tại khu thành cổ Jerusalem và sát với Bức tường than khóc - địa điểm linh thiêng bậc nhất với người theo Do Thái giáo. Chưa hết, hàng ngàn người Do Thái cũng đổ về khu thành cổ để kỷ niệm ngày Israel chiếm được Đông Jerusalem.

Tính từ khuya ngày 10 tháng 05, đã có hơn 1.000 quả rốc két được bắn về phía Israel. Lá chắn bảo vệ Israel mang tên “vòm sắt” đã được kích hoạt với một hình ảnh đẹp kinh khủng trên bầu trời, nhưng là một hình ảnh đẹp đáng sợ của chiến tranh. Quân đội Israel cũng không để yên, đáp trả bằng hàng trăm cuộc không kích.

Câu hỏi:

-Tại sao lại có chuyện thù hận này?
-Tại sao từ ngày chúng ta biết đọc tin tức và đọc thời sự, đã luôn nghe về việc này?
-Và tại sao Jerusalem lại quan trọng đến thế?
-Tại sao họ lại cùng giành nhau một địa điểm linh thiêng?

“Hãy đi tìm lịch sử, bởi chỉ có lịch sử mới đi kể cho bạn về nguồn gốc của vấn đề”.

//

1. Tôn giáo – sự ra đời của mâu thuẫn

Thiên chúa giáo, Hồi giáo, vì sao mà sinh ra? Lý do vì sao xuất hiện các cuộc thập tự chinh? Lý do vì sao Israel lại là cái g*i trong mắt của cộng đồng Ả Rập.

Đầu tiên là một sự thật gây bất ngờ cho tất cả: Do Thái giáo, Kito giáo (Thiên Chúa Giáo theo cách gọi của tiếng Việt) và Hồi giáo – 3 tôn giáo đang đánh nhau chí chóe ở khu vực Trung Đông ... đều có cùng chung một gốc. Đấy được gọi là các tôn giáo độc thần mà nguồn gốc chung của chúng đến từ một nhân vật sống vào đầu thiên niên kỷ 2 TCN (tức cách đây 4000 năm), gọi là Abraham.

Và địa điểm mà người cha ấy sinh ra các tôn giáo đó chính chỗ bom đạn đang nổ ầm ầm: Trung Đông và Jerusalem.

3000 năm về trước, tộc người Do Thái đến định cư ở phía tây bán đảo Ả Rập. Vị vua của người Do Thái tên là vua David (người đã đánh bại tên khổng lồ Goliath) mà nhiều người vẫn dùng thành ngữ. Thủ đô và trung tâm của người Do Thái bạn có biết là tên gì không? Nó tên là … Jerusalem. Và trên quê hương với những vùng đất được định hình này, Do Thái giáo đã được sinh ra từ gốc khởi nguồn của Abraham.

1/ Do Thái giáo của người Israel đã xuất hiện từ rất lâu, và còn xuất hiện đầu tiên.

2/ Vùng đất mà họ đang sinh sống của hôm nay, là nơi mà tổ tiên họ đã ở đó từ 3000 năm trước.

Nắm kỹ được 2 điều đó, chúng ta mới hiểu để đi đến phần sau của câu chuyện.

Người Do Thái lập nước được một thời gian thì bị đô hộ bởi đế quốc Babylon (Iran, Iraq) ngày nay. Sau đó đến lượt đế chế La Mã thống trị họ. Đây là quốc gia mất nước hơn 1000 năm.
1000 năm sau khi bị mất nước, và dân tộc vẫn đang nằm dưới chế độ cai trị của người La Mã, thì có một người Do Thái được lịch sử giao cho vận mệnh đã xuất hiện. Người đàn ông này và sự vĩ đại của ông ta sẽ thay đổi lịch sử thế giới. Tên ông là … Jesus. Ông tiến vào thành Jerusalem trên lưng một con lừa.Vì KINH CỰU ƯỚC của người Do Thái ghi rõ “Vị vua của Israel ở tương lai sẽ tiến vào Jerusalem trên lưng một con lừa” nên người Do Thái đã vây lấy ông, nghe ông nói chuyện, đợi ngày ông giải phóng dân tộc khỏi đế chế La Mã. Nhưng không, chỉ một tuần sau, đế chế La Mã biết tin, và người đàn ông ấy đã bị đóng đinh câu rút. Một bộ phận người Do Thái tin rằng chúa Jesus đã chết. Nhưng một bộ phận khác thì không, họ tin rằng chúa sẽ phục sinh và đưa họ ra khỏi dòng khổ ải trầm luân. Bộ phận này tách thành một giáo lý riêng gọi là KINH TÂN ƯỚC, với lễ Giáng Sinh (Chúa ra đời), và Lễ phục sinh (Chúa sống lại), đấy chính là Đạo Thiên Chúa (Kito giáo) của phương Tây. Những người này vì muốn cho tất cả biết rằng Chúa đã phục sinh, nên đã đi khắp nơi để giảng đạo.

Lúc này, vì đế chế đang nằm trong quyền cai trị của La Mã, ngôn ngữ chữ viết La Tinh cũng thống nhất, nên vô tình giúp cho việc giảng đạo được dễ dàng hơn nhờ vào hành chính, giao thông thuận lợi. Câu nói “Đường nào cũng về La Mã” là có ý nói về sự ưu việt về đế chế này. Đến năm 312, một sự kiện lớn xảy ra để Kito giáo trở thành tôn giáo lớn nhất đế chế. Đấy là việc Hoàng đế Constantine nhận được điềm báo Thập tự giá. Cùng thời điểm đấy, ông giành được chiến thắng Maxentius ở trận Cầu Milvian và thâu tóm quyền lực Đông và Tây. Tin rằng được phù hộ (vì nhận điềm báo thập tự giá mà) nên đến năm 313, hoàng đế ra chỉ dụ Milano cho phép người Kitô giáo được tự do hành đạo. Đến năm 380, Theodosius I chính thức công nhận Kitô giáo là quốc giáo của đế chế La Mã. À, đến đây có lẽ bạn đã biết vì sao Roma, Vatican là kinh đô Kito giáo rồi.

Tôi có dòng chảy như sau:

3000 năm trước, Do Thái giáo ra đời. 2000 năm trước, Thiên Chúa giáo ra đời. Vậy Hồi Giáo? 1400 năm trước, đến lượt Hồi Giáo xuất hiện.

Vẫn là trên bán đảo Ả Rập đầy huyền bí đó. Một chàng trai trẻ khác tên là Muhammad (Mô ha mét), đã đến và vẫn là lấy gốc từ chính Abraham để tạo nên Hồi Giáo. Các bạn chú ý, Hồi Giáo thừa nhận hết những con người như Jesus, như Moise, như Abraham. Tuy nhiên, có 1 điểm khác biệt cốt lõi, chính điểm này đã sinh ra mâu thuẫn, và gián tiếp sinh ra đau thương. Bao gồm 2 điểm chính:

1/ Muhammad chỉ tự nhận mình là “Nhà tiên tri”, là sứ giả của thượng đế, là người phát ngôn của Thượng đế xuống truyền đạt đúng y lời của thượng đế. Chứ chưa bao giờ ông nói mình là “Chúa”.

2/ Muhammad nói rằng KINH KORAN là quyển kinh gốc mà thượng đế ban cho, là quyển kinh “Nguyên sơ nhất”, “Trọn vẹn nhất”. Trong khi Kinh Cựu Ước của người Do Thái và Kinh Tân Ước của người Thiên Chúa đã bị bóp méo đi rồi.

Người theo Do Thái đương nhiên không tin, người theo Thiên Chúa cũng chẳng tin. Nhưng người Hồi Giáo thì tin. Vậy là mâu thuẫn xảy ra khi người Hồi Giáo với niềm tin sắt đá đã xem những kẻ kia là dị giáo. Còn những người kia thì gọi bên kia là “Cực đoan”.

Trong cuộc sống này, suy nghĩ “Ta là số 1, ta là đúng nhất, còn ngươi mới sai” có thể đơn giản chỉ là nghỉ chơi với nhau, thỉnh thoảng nói xấu nhau cho vui miệng (nói xấu quanh năm suốt tháng thì hơi bệnh). Nhưng với vấn đề tôn giáo, khi có sự va đụng về quyền lợi, về vùng đất, thì cái đem lại chính là máu đổ, là chiến tranh.

"Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân." - Karl Marx

Như đã nói ở trên, người Do Thái mới lập nước chưa được bao lâu thì bị tấn công và đô hộ (giống y như Việt Nam đấy). Các đế quốc hùng mạnh lần lượt tấn công họ và đặt họ vào trong thế vong quốc suốt 2000 năm lần lượt là đế chế Babylon, đế chế La Mã, và cuối cùng là đế chế Ottoman. Sang thế kỷ 20, đế chế Ottoman tan rã thì người Do Thái lại đối mặt với họa diệt chủng từ phía Phát Xít Đức. Nhưng 2000 năm đau thương và bơ vơ đó, người Do Thái chưa bao giờ ngừng phản kháng, chưa bao giờ chịu đầu hàng, và chưa bao giờ quên đi tổ tiên của mình.

Đế chế La Mã vì quá bực mình trước cái chuyện người Israel luôn phản kháng. Họ đã làm một việc mang tính đồng hóa, đấy là sau khi đập Israel một quả nổ đom đóm mắt. Người La Mã đã nhét tất cả 3 tôn giáo tôi kể trên kia vào một vùng đất, với mục đích triệt tiêu sự tồn tại của người Do Thái, một vùng Ả Rập rộng lớn được hình thành, và tên của vùng đất hỗn tạp đó là … Palestine !

2. Đế chế Ottoman.

Palestine nằm trong lòng đế chế Ottoman.

Đấy không đơn thuần là Thổ Nhĩ Kỳ, nước Thổ chỉ là cái gốc sơ khởi để Ottoman đi ra thế giới. Những vị vua giỏi nhất lên nắm quyền tại Thổ Nhĩ Kỳ và bắt đầu con đường chinh phục của họ, chẳng hạn vua Selim I, người đánh bại Ba Tư, tiêu diệt Ai Cập và đến đại đế Suleiman lấy luôn cả Trung Đông sát nhập vào Ottoman. Người Thổ Nhĩ Kỳ hôm nay vẫn nói về Ottoman như người Mông Cổ nói về thời đại Thành Cát Tư Hãn.

Và đế chế đó … theo HỒI GIÁO.

Đấy là một trong những đế quốc rộng lớn nhất lịch sử nhân loại, đã từng “phủ” lên cả ba châu lục Á, Âu, Phi, với đội quân khát máu nhất cùng một đế chế thịnh vượng. Có nghĩa, đã có giai đoạn mà Hồi giáo đè bẹp cả Châu Âu. Trong lòng đế quốc Ottoman thời kỳ thịnh trị nhất, đế chế này đã bao gồm cả Hy Lạp, Bulgaria, Romania, Nam Tư (rồi lại tan rã làm 5 nước độc lập khác chẳng hạn Croatia, Serbia…), Hungary, Albania, Syria, Liban, Jordan, Israel, Kuwait, Ai Cập, Sudan, Libya, Iraq, Yemen, Tunisia, Algérie, Síp, Armenia, Gruzia, Ukraina và một phần nước Nga. Tức là có tới 30 quốc gia hiện nay đã được thành lập từ lãnh thổ cũ của Đế quốc Ottoman. Bạn có thể nhận ra những cái tên quen thuộc của mùa xuân Ả Rập ở trong ấy: Tunisia, Algeria, Ai Cập, Yemen, Syria, Iraq, Libya.

Thiên Chúa Giáo ở Châu Âu lại bị đế chế Ottoman đe dọa. Nhưng trước khi Ottoman ra đời và làm nên kỳ công trên, thì giữa Hồi giáo và Thiên chúa giáo, giữa người Ả Rập và người Châu Âu đã tồn tại mâu thuẫn không thể hàn gắn. Tất cả liên quan đến một vùng đất thánh tên gọi là Jerusalem.

Ở phần 1 của bài viết này. Các bạn đều biết sự ra đời của 3 tôn giáo đều ở vùng đất Ả Rập, và 3 người truyền bá. Trêu ngươi thay cả 3 đều xem Jerusalem là vùng đất thánh minh của mình. Vua David chọn Jerusalem là kinh đô, chúa Jesus xuất hiện ở Jerusalem, và nhà tiên tri Muhammad đã bay lên thiên đường từ …Thánh Đường Đá ở Jerusalem. Vậy là Jerusalem trở thành điểm hành hương, và cũng điểm tranh giành của 3 tôn giáo, đồng nghĩa là điểm tranh giành của cả thiên hạ. Bây giờ có lẽ bạn đã hiểu vì sao Trung Đông lại nóng đến như thế rồi? Vì sao sự kiện chính quyền Israel đuổi 6 gia đình Palestine sinh sống tại khu vực Sheikh Jarrah thuộc Đông Jerusalem cách đây một tuần lại có thể xảy ra chiến tranh.

Những giáo hoàng Châu Âu, nơi truyền bá Thiên Chúa Giáo, cũng có niềm tin về chúa Giêsu, và vì muốn bảo vệ cũng như tranh giành Jerusalem, họ đã phát động một cuộc chiến tranh kéo dài từ thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ 13. Tên của cuộc chiến đó có lẽ các bạn đã đoán ra: THẬP TỰ CHINH. Đấy là một cuộc chiến tranh tôn giáo giữa Kitô giáo và Hồi Giáo trên ngọn cờ hiệu “Giải phóng vùng Đất Thánh và vùng đất thiêng Jerusalem khỏi người Hồi giáo, giải phóng những tín đồ Công giáo khỏi sự thống trị của Hồi giáo."

Đoàn quân “Thập tự chinh” đầu tiên đánh vào Jerusalem và tàn sát quân hồi giáo chính là…PHÁP. Và Pháp chính là quốc gia chủ đạo với những “hiệp sĩ dòng Đền” trong các cuộc tấn công vào Ả Rập 8 lần tiếp theo, trong các cuộc chinh chiến này thì Anh, Bồ đều tham gia, và cả gì bạn biết không: thập tự quân Bắc Âu.

Thế đây, cho nên màn báo thù mà các bạn thấy được hồi mấy năm trước mà facebook loạn lên dòng chữ “Pray for Paris” ở Paris hay ở Đan Mạch, Na Uy đều có ý nghĩa lịch sử cả. Những vụ khủng bố tại Pháp và Châu Âu hôm nay không phải là “trên trời rơi xuống”, cũng không phải vì IS hay những cuộc tấn công của Pháp tại Syria hay Lybia, đó là những mâu thuẫn có từ rất lâu rồi. Cuộc thập tư chinh, Châu Âu giành được những thắng lợi bước đầu trước khi bị quân Ottoman đánh bại. Cuộc thập tự chinh lần cuối kết thúc vào năm 1272. Đến năm 1517, đế quốc Ottoman thâu tóm cả Trung Đông, Ả Rập, 20 năm tiếp theo, họ lấy luôn Hy Lạp và Hungary. Cả Châu Âu bị Ottoman đe dọa. Ottoman chính là đế quốc đường đường chính chính nhất thế giới Hồi Giáo thách thức thế lực phương tây và thậm chí còn đe dọa nuốt luôn họ. Châu Âu luôn phải lập nên các liên minh thần thánh để bảo vệ thế giới Kitô giáo trước các cuộc xâm lăng nay.

Israel lúc này ở đâu? Đang bị đè bẹp trong cái vùng đất Palestine (giờ do Ottoman cai trị), và vẫn hành hương đi khắp nơi, không quên nhắc nhau về nguồn gốc và tôn giáo Do Thái của mình. Thế rồi, vào cuối thế kỉ 19, một phóng viên, nhà văn tên là Theodor Herzl đã quyết định vươn cao hơn tất cả. Bằng ngòi bút của mình, ông kích thích dân tộc, ông gợi lại lịch sử, ông nhắc nhở cho người Do Thái biết mình ở đâu, mình đến từ nơi nào. Ông gọi lại cái tên “Miền đất hứa”, để những người dân Do Thái trở về Palestine để phục hưng lại vương quốc. Theodor Herzl xuất bản cuốn sách “Nhà nước Do Thái” vào năm 1896 và lý luận rằng Vấn đề của người Do Thái chỉ có thể được giải quyết bằng cách thiết lập một nhà nước Do Thái ở Palestine. Những người Do Thái tha hương bắt đầu trở về Palestine, nơi có Jerusalem 3000 năm trước chính là thủ đô của nước Do Thái do vua David đứng đầu. Họ đợi đến ngày “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” sẽ trả lại cho họ vùng đất của 3000 năm trước. Những ước vọng này đã được thổi bùng lên bắt đầu từ một nhà báo viết lịch sử dân tộc.

Lúc này, Ottoman theo thời gian đã suy yếu dần, các lãnh thổ dần dần bị mất, nhiều nơi vùng lên đòi quyền tự trị để thành quốc gia tách biệt với Ottoman. Điều gì đến cũng đã đến, năm 1914-1918 khi chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra. Đế chế Ottoman đã yếu còn chọn sai phe. Họ chọn Đức-Áo-Hung. Kết quả các cường quốc đồng minh Anh – Pháp - Nga đã giành thắng lợi. Khi thế chiến 1 kết thúc, Ottoman trong vai trò kẻ thua cuộc nên bị những người Châu Âu đập cho tan rã lãnh thổ to lớn của Ottoman – một đế chế đã đe dọa Châu Âu suốt 7 thế kỷ.

Trước đó (vào năm 1916), đế quốc này cũng bị xé lẻ ra ra bằng thỏa thuận Sykes-Picot với việc Pháp có vùng phía bắc của Ottoman ( bao gồm Syria, với sau này là Liban), Anh có vùng phía Nam của Ottoman (Jordan, Iraq và sau này, Palestine). Khi Thổ Nhĩ Kỳ cũng tuyên bố độc lập, Ottoman chính thức sụp đổ. Nhưng Phương Tây luôn mang một tiềm thức sợ hãi đế chế Ottoman, đế chế đe dọa sự tồn vong của phương Tây và từng bao vây Viên, xâm lược Hungary, lấy Hy Lạp, … sẽ một ngày trở lại. Và các cuộc thập tư chinh mâu thuẫn tôn giáo luôn là thứ im sẵn trong lòng của phương Tây. “Chúa của mình mới là ưu việt nhất, còn Hồi giáo là không”. Bởi vì “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.” Người Anh và Pháp quyết định phân chia lại biên giới của một loạt các quốc gia như Tunisia, Ai Cập, Yemen, Syria, Iraq, Libya …. Vâng, thưa các bạn, tất cả các quốc gia này (bao gồm cả Syria đang bắn phá ầm ầm), đã được sinh ra bằng một cuộc họp và một tấm bản đồ trải ra đó. Hồi Giáo đã thua cuộc chính ở đây.

Bây giờ tôi sẽ nói tiếp về sự ra đời Israel. Lý do vì sao họ bị căm ghét.

Bên cạnh sự phân chia đất đai cho những quốc gia hồi giáo, thì Israel chính thức được đền bù sau 3000 năm đau khổ. Câu chuyện diễn ra sau thế chiến II, khi những đau thương mà Israel phải chịu đựng dưới thời Đức Quốc Xã, khi những người Do Thái ưu tú nhất đã vận động hành lang, khi những người Do Thái giàu có nhất đang tích cực mua bất động sản ở Palestine. Tất cả đã khiến cho Anh,Pháp và Mỹ phải đền bù cho Israel. Thế là, một quốc gia đã trở lại sau 3000 năm. Với 33 phiếu thuận, 13 phiếu chống và 10 phiếu trắng, đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã chia phía Đông Palestine thành hai nhà nước: một phần đất là của người Palestine theo đạo Hồi, phần còn lại là người Palestine theo đạo Do Thái (tức nước Israel) còn Jerusalem thành đặc khu được LHQ bảo vệ. Đấy là câu chuyện về một mảnh đất 3000 năm trước thuộc về anh A, 300 năm trước thuộc về anh B, rồi giờ anh A trở lại và chia đất, chia biên giới lãnh thổ với anh B.

Tuy nhiên, khác với việc vẽ ra bản đồ cho những Jordan hay Ai Cập, Syria (đều cùng theo đạo Hồi). Palestine lúc này có 1 điểm khác: sự va chạm giữa 2 tôn giáo: Do Thái và Hồi Giáo. Bị ảnh hưởng bởi phong trào chủ nghĩa dân tộc, của tôn giáo mình thờ phụng, những người Ả Rập (tức anh B ) không để yên việc này, họ ngăn chặn việc thành lập quốc gia cho người Do Thái ở Palestine.

Đấy chính là khởi nguồn của Chiến tranh Ả Rập-Israel 1948. Liên quân Ả Rập bao gồm Ai Cập, Syria, Jordan, Liban, Iraq, Ả Rập Saudi, Yemen và Palestine đã sát cánh cùng nhau quyết tâm đập chết quốc gia Israel. Kết quả không ngờ được đã xảy ra, Israel mới thành lập nước đã đập tan tác cả 5, 6 quốc gia kia. Người Do Thái gọi cuộc chiến tranh này là “Giải phóng dân tộc”, còn người Palestine hồi giáo gọi đó là “Thảm họa.” Đây là cuộc xung đột từ tôn giáo đến lãnh thổ, từ lịch sử đến biên giới.

Đến năm 1967, có một cuộc chiến tranh gọi là “Chiến tranh 6 ngày”, Israel thêm một lần nữa chiến thắng. Nhưng lần này khủng khiếp hơn, họ chiếm luôn Jerusalem, khiến cho các nước Ả Rập phải cầu hòa. Hồi năm 2017 có một sự kiện khá thú vị, đấy là anh Donald Trump không sợ trời, không sợ đất đã tuyên bố chính thức công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel và sẽ chuyển Đại sứ quán Mỹ về thành phố này một khi công tác chuẩn bị hoàn tất. Khiến cho các quốc gia hồi giáo phản ứng mãnh liệt.

Israel đã được đứng vững, và người phóng viên Theodor Herzl năm nào đã ngậm cười nơi chín suối. Để tôn vinh ông, người bằng ngòi bút đã thay đổi cả số phận dân tộc. Tuyên ngôn độc lập của Israel khi được đọc lên, thì cái tên Theodor Herzl đã được gọi là người cha tinh thần của đất nước. Người Israel đặt ra 1 ngày gọi là Ngày Herzl, là ngày lễ quốc gia hàng năm.

Israel, một quốc gia có lịch sử đau thương và đẫm máu (mất nước 3000 năm và đối mặt với họa diệt chủng), người dân nam cũng như nữ luôn sống trong tư thế của những con người cầm chắc tay súng để bảo vệ vùng đất của tổ tiên mà họ chỉ có lại được sau thế chiến II, và luôn ám ảnh cảnh bị mất nước và xóa tên trên bản đồ thế giới. 60 năm qua, đây là đất nước luôn bị những đất nước vây xung quanh đòi đầu. Và để chống lại điều này, Israel cũng không nhượng bộ, không thỏa hiệp, tiếng súng vì vậy không bao giờ ngưng ở Jerusalem. Không có quốc gia nào, mà cơ quan tình báo (Mossad), lại được xem như là văn hóa, là thần tượng của người dân, là cột chống bão giông, và là điểm tựa bảo vệ cuối cùng cho quốc gia mỗi ngày như Mossad của Israel.

Mâu thuẫn giữa Trung Đông Hồi Giáo, Israel Do Thái giáo và Phương Tây Thiên Chúa Giáo là một mâu thuẫn tính bằng thiên niên kỷ. Vì sao Trung Đông luôn là cái lò lửa, là lâu lâu xuất hiện trên báo chí và bản tin thời sự về những màn báo thù và tiếng súng nổ. Vì xung đột Palestine-Israel là xung đột tính bằng thiên niên kỷ và bao trùm mọi mặt của đời sống.

Trong cuộc chiến này vì vậy không có xấu có tốt, không có đúng có sai, tất cả những người trong cuộc đều giữ một niềm tin bất diệt về dân tộc của họ. Đúng hay sai phụ thuộc vào lăng kính bên này hay bên kia. Còn tôi, tôi chỉ là người kể lại lịch sử, để bạn biết về căn nguyên vấn đề vì sao có súng nổ, chứ không phải để phán xét.

(Tp.HCM, 13.5.2021)
Nguồn: https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=3960969137285132&id=100001162542779

Address

Phường Vệ An, Thành Phố Bắc Ninh, Tỉnh Bắc Ninh
Bac Ninh

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Trường Sĩ Quan Chính Trị Quân sự - Đại học Chính Trị posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The University

Send a message to Trường Sĩ Quan Chính Trị Quân sự - Đại học Chính Trị:

Share